Sunday, 14 Aug 2022
Tin tức

Các cam kết về thuế trong WTO của Việt Nam (phần tiếp)

CÁC CAM KẾT VỀ MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ

1- Đối với dịch vụ kinh doanh

Theo phân loại của GATS, ngành dịch vụ kinh doanh được chia thành 46 phân ngành. Ta cam kết 26 phân ngành. Các cam kết chính bao gồm:

– Bảo lưu quy định doanh nghiệp100% vốn đầu tư nước ngoài chỉ được cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các dự án nước ngoài ở Việt Nam trong vòng 1 năm kể từ khi gia nhập đối với dịch vụ thuế, 3 năm kể từ khi gia nhập đối với dịch vụ kiến trúc, dịch vụ thiết kế đô thị và kiến trúc cảnh quan đô thị, dịch vụ máy tính và các dịch vụ liên quan.

– Chúng ta cũng có lộ trình cụ thể trong việc cho phép tăng tỷ lệ vốn góp trong liên doanh, tiến tới cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài với các dịch vụ thiết kế đô thị, kiến trúc cảnh quan đô thị, dịch vụ quảng cáo, nghiên cứu thị trường, dịch vụ phân tích và kiểm tra kỹ thuật…nhìn chung các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chỉ được phép thành lập ở Việt Nam trong khoảng từ 2 – 3 năm sau khi gia nhập.

2- Đối với dịch vụ thông tin (viễn thông)

– Về cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng

Trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông cơ bản, bên nước ngoài chỉ được phép đầu tư dưới hình thức liên doanh với nhà khai thác Việt Nam được cấp phép với vốn góp tối đa là 49% (tương tự như cam kết trong BTA)

– Về cung cấp dịch vụ viễn thông không có hạ tầng mạng

Trong 3 năm đầu kể từ khi gia nhập WTO, bên nước ngoài chỉ được phép đầu tư dưới hình thức liên doanh với nhà khai thác Việt Nam được cấp phép với phần vốn góp tối đa là 51%. Ba năm sau khi gia nhập, bên nước ngoài mới được phép tự do lựa chọn đối tác kinh doanh và nâng vốn góp lên 65%.

– Về cung cấp dịch vụ viễn thông qua biên giới

Ba năm sau khi gia nhập, các công ty đa quốc gia hoạt động tại Việt Nam sẽ được cấp phép sử dụng trực tiếp dịch vụ về tinh của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Việc Nam cũng có cam kết cho phép bên nước ngoài được kết nối và bán dung lượng cáp quang biển nối với các trạm cập bờ của Việt Nam với lộ trình cụ thể.

3- Đối với dịch vụ xây dựng

Mức độ cam kết vẫn giữ như BTA nhưng bổ sung thêm nội dung về chi nhánh. Cụ thể, sau 3 năm kể từ khi gia nhập WTO, Việt Nam cho phép thành lập chi nhánh với điều kiện trưởng chi nhánh phải là người thường chú tại Việt Nam.

4- Đối với dịch vụ phân phối

Việt Nam cam kết cho phép bên nước ngoài thành lập liên doanh với phần vốn góp tối đa là 49% kể từ khi gia nhập. Hạn chế vốn góp này được từng bước nới lỏng và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được phép thành lập tại Việt Nam từ năm 2009.

Việt Nam không mở cửa thị trường phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quý cho nước ngoài. Bên cạnh đó, với nhiều sản phẩm nhạy cảm như: Sắt thép, phân bón, xi măng… Việt Nam chỉ mở cửa thị trường sau 3 năm gia nhập.

5- Đối với dịch vụ giáo dục

Phạm vi cam kết của Việt Nam rộng hơn so với BTA nhưng vẫn thấp hơn hiện trạng của Việt Nam hiện nay và hoàn toàn phù hợp với chủ trương xã hội hoá giáo dục của Chính phủ hiện nay.

6- Đối với dịch vụ môi trường

Việt Nam cam kết cho phép bên nước ngoài thành lập liên doanh với các đối tác Việt Nam được cấp phép trong các lĩnh vực dịch vụ nước thải, xử lý tiếng ồn, làm sạch khí thải và đánh giá tác động của môi trường kể từ khi gia nhập với phần vốn góp tối đa là 49% và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chỉ được phép thành lập trong khoảng 4 – 5 năm sau khi gia nhập.

7- Đối với dịch vụ tài chính

– Dịch vụ bảo hiểm

Việt Nam cam kết cho phép nhà cung cấp nước ngoài được cung cấp qua biên giới một số loại hình dịch vụ bảo hiểm như: Bảo hiểm cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, tái bảo hiểm, bảo hiểm đối với vận tải quốc tế…Nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm nước ngoài được thành lập công ty 100% vốn nước ngoài sau khi gia nhập WTO, được cung cấp các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc từ ngày 01/01/2008 và thành lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ sau 5 năm kể từ khi gia nhập.

– Dịch vụ ngân hàng

Việt Nam đồng ý cho thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài không muộn hơn ngày 01/4/2007. Ngoài ra, ngân hàng nước ngoài muốn được thành lập chi nhánh tại Việt Nam nhưng chi nhánh đó không được phép mở chi nhánh phụ và vẫn phải chịu hạn chế về huy động tiền gửi bằng VND từ thể nhân Việt Nam trong vòng 5 năm kể từ khi ta gia nhập WTO. Ta vẫn giữ được hạn chế về mua cổ phần trong ngân hàng Việt Nam, không quá 30%. Đây có thể nói là hạn chế đặc biệt, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với ngành ngân hàng.

– Dịch vụ chứng khoán

Theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam cho phép các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán cung cấp qua biên giới một số hoạt động liên quan đến chứng khoán như: Thông tin tài chính, tư vấn tài chính, các dịch vụ trung gian và hỗ trợ kinh doanh chứng khoán….

Ngoài ra, Việt Nam cũng cho phép thành lập liên doanh 49% vốn nước ngoài ngay từ khi gia nhập WTO. Sau 5 năm Việt Nam cho phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài và chi nhánh để cung cấp dịch vụ chứng khoán đối với một số loại hình dịch vụ như: Quản lý tài sản, thanh toán, tư vấn liên quan đến chứng khoán, trao đổi thông tin tài chính….

8- Đối với dịch vụ y tế

Mức độ cam kết cả Việt Nam trong dịch vụ này như BTA, chỉ khác điểm duy nhất là Việt Nam đã giảm mức vốn tối thiểu để thành lập cơ sở điều trị chuyên khoa từ 1 triệu USD (ta đã bãi bỏ yêu cầu này trên thực tế).

9- Đối với dịch vụ du lịch

Đối với dịch vụ khách sạn – nhà hàng, trong vòng 8 năm kể từ khi gia nhập, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo hoặc mua lại khách sạn. Đối với du lịch lữ hàng và điều hành tour du lịch Việt Nam cho phép thành lập liên doanh không hạn chế vốn góp nước ngoài.

10- Đối với dịch vụ văn hoá, giải trí

Với dịch vụ giải trí, phía nước ngoài chỉ được phép thành lập liên doanh sau 5 năm kể từ khi gia nhập với mức vốn góp tối đa là 49%. Với lĩnh vực kinh doanh trò chơi điện tử, việc cung cấp phải thông qua hợp đồng, hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với các đối tác Việt Nam được cấp phép và phần vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 49%.

11- Đối với dịch vụ vận tải

– Dịch vụ vận tải biển và hỗ trợ vận tải biển

Việt Nam không hạn chế nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài vận chuyển hàng hoá qua biên giới, không cam kết đối với vận tải hành khách. Sau 2 năm kể từ khi gia nhập, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép thành lập liên doanh khai thác đội tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam với phần vốn góp không quá 49% vốn pháp định.

Ngoài ra, kể từ khi gia nhập, công ty nước ngoài được phép thành lập liên doanh với 51% vốn nước ngoài và sau 5 năm là công ty 100% vốn nước ngoài để cung cấp một số dịch vụ vận tải biển quốc tế. Số lượng liên doanh tối đa là 5 công ty ở thời điểm gia nhập, cứ 2 năm cho phép thêm 3 công ty, sau 5 năm sẽ không hạn chế số lượng công ty.

– Dịch vụ vận tải bộ

Việt Nam không cam kết dịch vụ vận tải hàng hoá và hành khách qua biên giới. Bên nước ngoài được phép thành lập liên doanh với 49% vốn nước ngoài và sau 3 năm lên 51% để cung cấp dịch vụ vận tải hàng hoá và hành khách tại Việt Nam trên cơ sỏ xem xét từng trường hợp cụ thể.

– Dịch vụ vận tải đường thuỷ, đường sắt và đường hàng không

Tương tự như dịch vụ vận tải bộ, ta chưa cho phép nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được vận chuyển hành khách và hàng hoá qua biên giới. Với dịch vụ vận tải đường thuỷ, Việt Nam cho phép thành lập liên doanh 49% vốn nước ngoài kể từ khi gia nhập. Với dịch vụ vận tải đường sắt, ta cho phép thành lập liên doanh 49% vốn nước ngoài nhưng chưa được vận tải hàng hoá.

Đối với dịch vụ tiếp thị sản phẩm hàng không, dịch vụ đặt giữ chỗ bằng máy tính, Việt Nam cam kết theo thực tế hiện hành. Đối với dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng máy bay, Việt Nam cho phép thành lập liên doanh 51% vốn nước ngoài kể từ khi gia nhập. Sau 5 năm Việt Nam cho phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài.

Bài viết đã được đăng ký bản quyền (DMCA). Nếu bạn đọc copy nội dung hãy để lại link về bài gốc hoặc ghi rõ nguồn ecdn.com.vn.
Copyright © 2022 | ecdn.com.vn | All Rights Reserved. DMCA.com Protection Status